Ứng dụng,

SỬ DỤNG CHẾ PHẨM CHỨA POLYPHENOLS (SILVAFEED) TRONG CHĂN NUÔI BÊ  

Trong những năm gần đây, đàn bò nuôi để sản xuất sữa và bò nuôi sản xuất thịt đang ngày càng phát triển. Theo số liệu thống kê của Cục Chăn Nuôi – Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, năm 2020 đàn bò thịt ở Việt Nam đạt 6,325 triệu con; và đàn bò sữa cũng trong năm 2020 đạt trên 331.000 con. Mặc dù số lượng các hộ chăn nuôi bò quy mô nhỏ, dưới 10 bò thịt hoặc bò sữa/hộ, hãy còn khá nhiều nhưng đồng thời xu hướng chăn nuôi bò thịt/sữa theo quy mô lớn đang ngày càng phát triển. Ở nhiều nơi quy mô chăn nuôi này không còn ở trong khái niệm “hộ chăn nuôi” nữa mà đã phát triển thành các trang trại hoặc công ty chăn nuôi với quy mô vài trăm bò sữa hoặc vài ngàn cho đến vài chục ngàn bò thịt trong một trang trại.

Bò là loài động vật nhai lại. Dạ dày của bò có 04 túi, với phần có dung tích lớn và đóng vai trò rất quan trọng trong sự tiêu hóa thức ăn là phần dạ cỏ, rồi tiếp đến là dạ tổ ong, lá sách, và dạ múi khế. Phần dạ cỏ đóng vai trò quan trọng trong sự tiêu hóa là nhờ vào hệ vi sinh vật phong phú hoạt động tại đây. Các vi sinh vật này gồm các vi khuẩn chiếm số lượng đông nhất, rồi đến các protozoa, còn gọi là nguyên sinh động vật, và một số lượng nhỏ các tế bào nấm. Chỉ riêng vi khuẩn, ước tính có đến 109 – 1010 (1 tỷ – 10 tỷ) tế bào trong một ml dịch chứa dạ cỏ. Với các protozoa tuy có phần hữu ích trong hoạt động dạ cỏ nhưng lại cũng có một vài ảnh hưởng không có lợi cho sự phát triển của bò, tính từ giai đoạn còn là bê nhỏ hoặc cả ở giai đoạn đã phát triển thành bò lớn.

Giai đoạn bê, tạm quy ước là tức lúc mới sinh ra cho đến khoảng 4 tháng tuổi. Giai đoạn này các cơ quan trong hệ thống tiêu hóa của bê hoạt động gần như là của một loài động vật dạ dày đơn, vì dạ cỏ chưa phát triển, các vi sinh vật có ích chưa phát triển nhiều. Vì vậy bê trong giai đoạn còn bú mẹ, nhất là với các bê mà bò mẹ bị thiếu sữa hay mất sữa ngay từ khi mới sinh ra (hay gặp trên các đàn bò giống hướng sản xuất thịt), thì rất dễ bị tiêu chảy. Tiêu chảy ở bê có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có một nguyên nhân là do cầu trùng gây ra, mà cầu trùng cũng chính là một trong những nhóm protozoa thường có mặt trong dạ cỏ của bò nhưng khi bò lớn thì các cầu trùng này tuy vẫn còn hiện diện trong dạ cỏ lại không đủ sức gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ bò lớn.

Giai đoạn bò lớn, có lẽ là nhờ chính hệ vi sinh vật có ích phong phú trong dạ cỏ, vừa làm nhiệm vụ hỗ trợ tiêu hóa thức ăn và vừa làm nhiệm vụ ngăn chặn các vi sinh vật có hại xâm nhập vào đường tiêu hóa, nên trên bò lớn được ghi nhận hiếm khi xảy ra các rối loạn đường tiêu hóa như hay gặp ở các loài vật nuôi khác như heo, gà. Tuy vậy ở bò lớn, cho dù là bò thịt hay bò sữa thì một hạn chế cho sự tiêu hóa lại đến từ chính nhóm protozoa có mặt thường xuyên trong dạ cỏ. Nhóm này tuy không gây rối loạn sức khoẻ bò nhưng lại tham gia nhiều vào quá trình lên men (phân cắt) các dưỡng chất có lợi trong thức ăn để xây dựng tế bào của chúng. Quá trình lên men này chuyển hóa nhiều dưỡng chất tốt trong thức ăn thành dạng khí và bay hơi (khi bò ợ hơi) nên làm mất đi nhiều giá trị dinh dưỡng trong thức ăn.

Do vậy, ở bò lớn, nếu muốn giúp bò tăng khả năng sử dụng dưỡng chất trong thức ăn có hiệu quả, hay nói cách khác là muốn tăng được giá trị dinh dưỡng của thức ăn cho bò thì thường người ta phải sử dụng những chất bổ sung, là thuốc hoặc chế phẩm nguồn gốc thiên nhiên, có tác dụng kiềm chế sự phát triển của các protozoa trong dạ cỏ thì sẽ gián tiếp giúp bò có thể sử dụng thức ăn hiệu quả hơn. Tuy vậy, sử dụng thuốc, hóa dược hay kháng sinh, trong thức ăn chăn nuôi đều đang bị hạn chế và tiến tới không cho phép sử dụng. Còn các chế phẩm bổ sung nguồn gốc thiên nhiên tức là có cấu trúc hữu cơ mà nếu không có các đặc điểm by-pass (thoát qua) thì lại rất dễ bị mất tác dụng, chính bởi vì tác động phân giải mạnh mẽ của quần thể vi sinh vật vô cùng to lớn có trong dạ cỏ sẽ làm cho các hợp chất hữu cơ khó giữ được cấu trúc nguyên thủy để phát huy tác dụng.

Với các loại chế phẩm chứa nhóm hợp chất polyphenols – hay còn gọi là tannin – như SILVAFEED thì cũng là có nguồn gốc hoàn toàn từ tự nhiên nhưng lại có thể được sử dụng cho bê uống để phòng ngừa và điều trị tiêu chảy, và cũng được sử dụng trộn vào thức ăn cho bò lớn để làm tăng khả năng sử dụng thức ăn, tăng năng suất thịt/sữa cho bò năng suất cao. Cấu trúc của hợp chất polyphenols vừa có đặc điểm giảm thiểu ảnh hưởng xấu từ các phản ứng oxyd hóa do các gốc tự do sinh ra trong quá trình trao đổi chất; lại vừa làm ảnh hưởng (hư hại màng tế bào) các vi khuẩn có hại và một số các nguyên sinh động vật (do cấu trúc màng tế bào của hai nhóm này gần tương tự nhau) nên có tác dụng kiềm chế sự phát triển của các vi khuẩn có hại hoặc nhóm protozoa có trong dạ cỏ bò. Mặt khác một nhóm polyphenols đặc thù có tên gọi riêng là tannin có ở chế phẩm Silvafeed lại có thêm tác dụng làm se niêm mạc đường ruột nên còn có thêm tác dụng giảm sự thoát nước qua màng tế bào và từ đó giúp phòng, trị chứng tiêu chảy vốn rất hay xảy ra trên bê và các loài động vật khác ở giai đoạn theo mẹ và sau cai sữa.

SỬ DỤNG SILVAFEED PHÒNG TRỊ TIÊU CHẢY Ở BÊ THEO MẸ

Trong một thí nghiệm thực hiện tại Trại bò sinh sản hướng thịt quy mô lớn tại Tây Nguyên đã đem lại một số kết quả cho thấy hiệu quả tốt của việc sử dụng Silva Feed cho bê uống trong 30 ngày sau khi sinh như sau:

Bảng 1. Tình trạng tiêu chảy ở bê trong 30 ngày sau khi sinh có hoặc không bổ sung Silvafeed trong sữa thay thế cho uống

 Số bê theo dõiSố bê tiêu chảyTỷ lệ bê tiêu chảy, %Số ngày con tiêu chảyTỷ lệ ngày con tiêu chảy, %
Số liệu ghi nhận trong toàn Trại trong tháng 01/2022 để dùng làm lô đối chứng, không bổ sung Silvafeed, chỉ dùng sữa thay thế ở bê mất sữa mẹ
– Bê bú mẹ đủ3428023,40
– Bê mất sữa mẹ843440,48
Lô thí nghiệm, bổ sung Silvafeed trong nước uống ở bê được bú mẹ đủ hoặc pha vào sữa thay thế liều 6 g/lít, cho bê mất sữa mẹ bú với lượng 1-2 lít sữa/ngày tùy thể trạng
– Bê bú mẹ đủ2514,0055/(25*30) = 0,70
– Bê mất sữa mẹ16212,501515/(16*30) = 3,13

 

Dễ nhận thấy là với bê sơ sinh, việc được bú đủ sữa mẹ ít ra là trong ba ngày đầu và tiếp tục trong vài tháng tiếp theo là cực kỳ quan trọng. Trong thí nghiệm, đàn bò sinh sản là bò hướng thịt của các giống cao sản như Angus, Drought Master, Brahman, Senepol nhập từ Úc. Các giống bò hướng thịt có đặc điểm chung là khối lượng bê sơ sinh thường khá thấp, trung bình 28 kg/con trong khi với các giống bò sữa cao sản thì khối lượng bê sơ sinh thường phải khoảng 40 kg/con. Bò mẹ của giống bò hướng thịt cũng không có cơ quan sinh sản hoặc hệ thống hormon thuận lợi theo hướng sữa nên lượng sữa tạo ra được hàng ngày cho bê cũng rất thấp và mau cạn sữa, thậm chí con bò mẹ hoàn toàn không có sữa sau khi sinh mặc dù quan sát bên ngoài không thấy có biểu hiện của bệnh sinh sản.

Do vậy, với số lượng chung toàn trại trong vòng một tháng thì thấy tỷ lệ bê tiêu chảy là khá cao ở nhóm bê có được bú sữa mẹ tương đối đủ (23,40%) và tỷ lệ này là rất cao, lên đến 40,48% ở nhóm bê mà bò mẹ thiếu sữa hoặc mất sữa ngay từ đầu.

Tình trạng tiêu chảy ở bê đã được cải thiện rất rõ rệt khi sử dụng Silvafeed với liều 6 g/lít nước hoặc sữa cho bê uống hàng ngày trong suốt 30 ngày sau khi sinh. Tỷ lệ bê tiêu chảy đã giảm từ 23,40% xuống còn 4,00% ở nhóm bê được bú mẹ đầy đủ; và giảm từ 40,48% xuống còn 12,50% ở nhóm bê mất sữa mẹ từ sớm. Đồng thời các bê bị tiêu chảy ở lô được bổ sung Silvafeed thì cũng chỉ trong vòng 5-8 ngày là ngưng nên sau đó đã mau chóng phục hồi được thể trạng.

Bảng 2. Trọng lượng và tăng trọng của bê qua 30 ngày thử nghiệm bổ sung Silvafeed

Nhóm bê bú đủ sữa mẹNhóm bê mất sữa mẹ
TL BQ bê đầu TN (8 ngày nhóm bê theo mẹ và 1 ngày nhóm bê mất sữa mẹ), kg/con28,85

 

(23,0 – 41,0)

 

25,17

 

(18,4 – 35,3)

 

TL BQ bê cuối TN (30 ngày tuổi), kg/con36,11

(23,0 – 51,0)

29,58

(21,0 – 43,0)

Tăng trọng hàng ngày, kg/con/ngày0,3300,147

 

Qui trình nuôi thông thường tại trại không cân bê lúc khoảng 30 ngày tuổi nên trong bảng 2 này không có số liệu về tăng trọng của bê ở lô đối chứng. Tuy nhiên nếu lấy số liệu về trọng lượng của bê toàn đàn từ sơ sinh đến lúc cai sữa 04 tháng tuổi thì xem như trung bình về tăng trọng của bê trong suốt 04 tháng là khoảng 0,300 kg/con/ngày (tháng đầu sau khi sinh tăng trọng bình quân thấp hơn mức bình quân của cả giai đoạn). Riêng với các bê được bổ sung Silvafeed trong nước uống hoặc trong sữa thay thế, nhận thấy là: nhóm bê được bú sữa mẹ cho tăng trọng tốt hơn hẳn so với nhóm bê không được bú mẹ, trung bình đạt 330 gam/con/ngày so với chỉ 147 gam/con/ngày.

SỬ DỤNG SILVA FEED PHÒNG TRỊ TIÊU CHẢY VÀ TĂNG TRƯỞNG Ở BÊ TẬP ĂN

Một thí nghiệm khác thực hiện tại Trung Tâm Nghiên Cứu Và Phát Triển Chăn Nuôi Gia Súc Lớn (xã Lai Hưng, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương) trên bê theo mẹ tập ăn từ khoảng 2-3 tháng tuổi thuộc nhóm giống hướng sản xuất thịt đã cho thấy: ngoài việc giúp giảm tỷ lệ tiêu chảy trên bê, việc bổ sung Silvafeed trong khẩu phần ăn còn giúp cho bê cải thiện sức tăng trưởng và qua đó cải thiện được hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR).

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố với 3 lần lặp lại; gồm 90 bê tập ăn chia làm hai 02 lô, mỗi lần lặp lại (ô chuồng) có 15 bê. Bê ở lô đối chứng bê được cho ăn khẩu phần tiêu chuẩn tại Trung tâm, còn bê ở lô thí nghiệm cũng được cho ăn khẩu phần tương tự nhưng có bổ sung 4 g Silvafeed cho 1 kg thức ăn tinh. Lượng thức ăn tinh là 0,4 kg/con/ngày. Nói cách khác, trong thời gian thí nghiệm 02 tháng mỗi bê được nhận 1,6 g Silvafeed/ngày. Các bê này vẫn còn đang bú mẹ và nhận thêm lượng thức ăn tinh như đã nêu trên chứ chưa được cho ăn thêm thức ăn xanh bổ sung trong chuồng hay chăn thả ngoài đồng.

Bảng 3. Ảnh hưởng của bổ sung Silvafeed đến tỷ lệ tiêu chảy của bê tập ăn

Chỉ tiêuĐối chứngBổ sung Silvafeed
Số bê thí nghiệm (con)4545
Số bê bị tiêu chảy (con)123
Tỷ lệ tiêu chảy (%)26,676,67
P – value0,01

 

Bảng 4. Ảnh hưởng của bổ sung Silvafeed đến tăng trưởng và FCR của bê tập ăn

Chỉ tiêuĐối chứng

( ± SE)

Thí nghiệm

( ± SE)

P
Khối lượng đầu (kg)61,9 ± 3,063,7 ± 2,80,68
Khối lượng sau 1 tháng nuôi thí nghiệm (kg)71,2 ± 3,875,4 ± 10,00,47
ADG 0 – 1 tháng (kg/con/ngày)0,34 ± 0,030,39 ± 0,030,00
FCR 0 – 1  tháng (Kg TA tinh/kg tăng KL)1,141,05
Khối lượng sau 2 tháng nuôi thí nghiệm (kg)79,4 ± 3,891,7 ± 2,20,03
ADG 1 – 2 tháng (kg/con/ngày)0,26 ± 0,040,54 ± 0,070,00
FCR 1 – 2  tháng (Kg TA tinh/kg tăng KL)1,900,77
ADG 0 – 2 tháng (kg/con/ngày)296,67 ± 3,5467,67 ± 2,50,00
FCR 0 – 2  tháng (Kg TA tinh/kg tăng KL)1,520,91 

 

Liên kết số liệu trong Bảng 3 và Bảng 4, có thể thấy trong đàn bê nuôi việc bê bị tiêu chảy hay không sẽ ảnh hưởng lớn đến sức sống và từ đó đưa đến khả năng tăng trưởng của bê có tốt hay không. Đàn bê trong lô thí nghiệm được nhận chế phẩm Silvafeed với lượng 1,6 g/con/ngày đã có tỷ lệ bê xuất hiện tiêu chảy khá thấp, chỉ ở mức 6,67% trong khi lô đối chứng, bê ăn khẩu phần thức ăn bình thường, không có Silvafeed đã có mức tỷ lệ tiêu chảy cao hơn gấp 4 lần so với lô thí nghiệm (26,67% so với 6,67%). Từ đây cũng đưa đến bê trong lô thí nghiệm có mức tăng trưởng tốt hơn so với bê ở lô đối chứng, 0,467 kg/con/ngày so với chỉ có 0,296 kg/con/ngày. Đồng thời, bê tăng trưởng tốt thì đưa đến là càng giảm được tiêu tốn thức ăn cho tăng trọng như số liệu về FCR trong Bảng 4 đã cho thấy.

Giả sử thức ăn tinh cho bê có giá khoảng 9.000 đ/kg và Silvafeed có giá bán đến nhà máy thức ăn chăn nuôi là 260.000 đ/kg thì trong vòng 60 ngày thí nghiệm, mỗi bê có chi phí bổ sung Silvafeed là:

1,6 g Silvafeed * (260.000/1000) = 416 đ/con/ngày; và xem như bò ở lô thí nghiệm cứ 2 ngày sẽ tăng được 1 kg khối lượng cơ thể nên chi phí sử dụng Silvafeed trong thời gian này sẽ là: 416 * 2 = 832 đ/kg tăng trọng

Chưa tính đến bê ở lô TN nặng cân hơn bê ở lô đối chứng sau 60 ngày thí nghiệm, nếu chỉ tính chi phí thức ăn cho tăng trọng thì:

– Lô đối chứng: 1,52 * 9.000 = 13.680 đ/kg tăng trọng;

– Lô thí nghiệm: 0,91 * 9.000 = 8.190 đ tiền TĂ/kg tăng trọng; cộng với 832 đ Silvafeed/kg tăng trọng = 9.022 đ tiền TĂ + Silvafeed/kg tăng trọng

Như vậy, sử dụng Silvafeed cho bê, ngoài tác dụng thấy rõ là giúp hạn chế tiêu chảy, còn hỗ trợ tăng trưởng và cải thiện nhiều về hệ số chuyển hóa thức ăn nên cũng giúp người nuôi tiết kiệm được 9.022 – 13.680 = – 4.658 đ chi phí thức ăn cho 1 kg tăng trọng và cũng sẽ rút ngắn được thời gian nuôi trong công đoạn nuôi bê để sớm chuyển sang cho bê ăn thức ăn xanh.

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

– Sử dụng Silvafeed cho bê giai đoạn sơ sinh đến 30 ngày tuổi bằng cách pha vào sữa thay thế hoặc nước uống với liều 6 gam/lít không gây ra vị đắng chát nên bê sẽ uống bình thường.

– Việc bổ sung Silvafeed cho bê ở giai đoạn sau khi sinh liều 6 gam/lít dung dịch uống hoặc giai đoạn 2-4 tháng tuổi liều 4 gam/kg thức ăn tinh đều đem lại kết quả phòng trị tiêu chảy rất hiệu quả, và đồng thời giúp cải thiện tăng trưởng của bê hết sức tích cực, cũng như cải thiện chi phí thức ăn nuôi dưỡng bê trong thời gian nuôi bê theo mẹ.

– Nên sử dụng Silvafeed cho bê với liều lượng đã nêu trong suốt thời gian từ sau khi sinh (không cần áp dụng ngay trong ba ngày đầu sau khi ở các bê được bú sữa đầu bình thường) cho đến khi hết thời gian theo mẹ, chuyển sang ăn thức ăn xanh là chính.

– Nên thực hiện tiếp một thử nghiệm sử dụng Silvafeed trộn vào thức ăn cho bò lớn với liều thấp hơn để đánh giá khả năng cải thiện sử dụng thức ăn của bò lớn, giúp giảm chi phí thức ăn cho tăng trọng.